Bệnh phân trắng trên tôm: dấu hiệu báo trước EHP?

benh-phan-trang-tren-tom-dau-hieu-bao-truoc-ehp
Mục lục

Tóm tắt

  • Trong khu vực này, những quốc gia chiếm tỷ trọng lớn về nuôi trồng tôm bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ thuộc nhóm các nước nuôi tôm hàng đầu châu Á.
  • Trong số sản lượng này, tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) chiếm tỷ lệ áp đảo, trong khi tôm sú (Penaeus monodon) chỉ chiếm phần nhỏ hơn và thường được nuôi tập trung ở Việt Nam và Ấn Độ.
  • Những năm gần đây, hội chứng phân trắng (White Feces Syndrome – WFS) xuất hiện phổ biến trên các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh, nơi tôm được thả ở mật độ rất cao, môi trường ao nuôi dễ biến động và phát sinh mầm bệnh.
  • Vì những khác biệt đó, nhóm chuyên gia đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu để xác định mối liên quan giữa hội chứng phân trắng và các rối loạn đường ruột, đặc biệt là bệnh do EHP gây ra tại hai khu vực đã từng ghi nhận EHP xuất hiện trên tôm.
  • EHP được phát hiện lần đầu tiên tại Thái Lan năm 2009, trên đối tượng tôm sú và được đặt tên dựa theo cơ quan mà nó tấn công là gan tụy của tôm (Tourtip và cộng sự, 2009 – J.

Khoảng 95% tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới hiện tập trung ở khu vực châu Á, đặc biệt là tại Đông Nam Á. Trong khu vực này, những quốc gia chiếm tỷ trọng lớn về nuôi trồng tôm bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ thuộc nhóm các nước nuôi tôm hàng đầu châu Á.

Trong số sản lượng này, tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) chiếm tỷ lệ áp đảo, trong khi tôm sú (Penaeus monodon) chỉ chiếm phần nhỏ hơn và thường được nuôi tập trung ở Việt Nam và Ấn Độ. Còn các nước như Thái Lan, Indonesia và Trung Quốc lại chủ yếu phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng với quy mô lớn.

Những năm gần đây, hội chứng phân trắng (White Feces Syndrome – WFS) xuất hiện phổ biến trên các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh, nơi tôm được thả ở mật độ rất cao, môi trường ao nuôi dễ biến động và phát sinh mầm bệnh.

Một tác nhân được chú ý nhiều trong các nghiên cứu gần đây là Enterocytozoon Hepatopenaei (EHP). Đây là một vi bào tử trùng ký sinh nội bào, sinh sản trong tế bào chất của tế bào biểu mô ống gan tụy tôm. EHP gây bệnh chủ yếu trên tôm thẻ chân trắng tại một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia.

Khi tôm nhiễm EHP, các biểu hiện thường thấy là tốc độ tăng trưởng chậm, từ đó kéo theo sự phân đàn rõ rệt. Ở giai đoạn nặng, tôm có hiện tượng vỏ mềm, suy yếu, giảm ăn và ruột rỗng. Kết quả phân tích mô học cho thấy EHP tồn tại trong nhiều giai đoạn phát triển khác nhau: từ ký sinh đến hình thành bào tử.

Trước đây, khi nghiên cứu về nguyên nhân gây ra hội chứng phân trắng trên tôm, các báo cáo thường đề cập đến nhiều yếu tố như vi khuẩn Vibrio spp., ký sinh trùng Gregarine, tảo độc, Vermiform nấm mốc. Một số nghiên cứu lại cho rằng EHP không phải là yếu tố trực tiếp gây ra WFS.

Vì những khác biệt đó, nhóm chuyên gia đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu để xác định mối liên quan giữa hội chứng phân trắng và các rối loạn đường ruột, đặc biệt là bệnh do EHP gây ra tại hai khu vực đã từng ghi nhận EHP xuất hiện trên tôm.

1. Vi bào tử trùng Enterocytozoon Hepatopenaei (EHP) là gì?

Enterocytozoon Hepatopenaei (EHP) thuộc nhóm Microsporidia, một ngành ký sinh trùng được xếp gần với giới nấm. EHP được phát hiện lần đầu tiên tại Thái Lan năm 2009, trên đối tượng tôm sú và được đặt tên dựa theo cơ quan mà nó tấn công là gan tụy của tôm (Tourtip và cộng sự, 2009 – J. Invertebr. Pathol. 102: 21-29).

tom-bi-nhiem-EHP

Tôm bị nhiễm EHP (Nguồn: UV-vietnam)

Tác nhân này có khả năng lây truyền rất nhanh, bao gồm:

  • Truyền dọc: Tôm mẹ mang mầm bệnh truyền cho tôm con qua trứng.
  • Truyền ngang: Tôm nhiễm bệnh do môi trường nước chứa mầm bệnh hoặc ăn động vật/cá thể nhiễm bệnh.

so-sanh-mau-gan-tom-khoe-va-gan-tom-bi-nhiem-ehp

Mẫu gan tôm khoẻ (A) và tôm nhiễm EHP (B) (Nguồn: UV-vietnam)

EHP có thể bám vào vỏ tôm trong quá trình lột xác, từ đó xâm nhập và gây nhiễm. Ngoài ra, tôm cũng có thể mắc bệnh khi ăn các sinh vật trong ao như:

  • Giun nhiều tơ (dời).
  • Giun đất sống trong bùn đáy.
  • Động vật hai mảnh vỏ (ngao, sò, hàu…).
  • Ấu trùng Artemia…

Những vật chủ trung gian này có thể là nguồn chứa và lan truyền EHP rất nguy hiểm trong hệ thống nuôi thâm canh.

2. Kiểm tra và phát hiện vi bào tử trùng Enterocytozoon Hepatopenaei (EHP) trên tôm

Biểu hiện ngoài của tôm nhiễm EHP thường không đặc trưng, gây khó khăn trong chẩn đoán nhanh. Tuy nhiên, những dấu hiệu thường gặp gồm:

  • Tăng trưởng kém, phân đàn mạnh từ sau 25 ngày thả nuôi.
  • Vỏ tôm mềm, tôm chậm chạp.
  • Giảm ăn, đường ruột trống.
  • Kích cỡ thu hoạch có thể chỉ đạt 10–40% so với ao khỏe mạnh.

su-thay-doi-mo-hoc-cua-gan-tom-bi-nhiem-ehp

Sự thay đổi mô học của tôm chân trắng nhiễm EHP:
A. Cấu trúc bình thường của gan tuỵ; B. Sự xuất hiện của bào tử và sự bong tróc của gan tuỵ; C. Sự tách rời của ống gan tuỵ; D. Sự tổn thương nghiêm trọng của tế bào
(Nguồn: UV-vietnam)

Nhiều báo cáo cho thấy tôm bị WFS thường đi kèm tỷ lệ nhiễm EHP rất cao, có thể lên tới 96%. Với các ao tôm ghi nhận hội chứng chậm lớn (MSGS), tỷ lệ nhiễm EHP cũng ở mức đáng báo động, khoảng 55,5%.

3. Bệnh phân trắng trên tôm: dấu hiệu báo trước EHP?

Từ thực tế và những quan sát lâm sàng khác nhau liên quan đến bệnh phân trắng trên tôm, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một chuỗi thí nghiệm có tính hệ thống nhằm xác định mối liên quan giữa Hội chứng phân trắng (WFS) và tình trạng nhiễm vi bào tử trùng EHP, tại hai khu vực đã ghi nhận sự xuất hiện của EHP là Đông Nam Á và Mỹ Latinh.

Trong nghiên cứu tiến hành tại một quốc gia Châu Á có lịch sử bùng phát mạnh WFS và hội chứng chậm lớn do EHP, các mẫu tôm từ ao nhiễm và không nhiễm phân trắng đã được lấy gan tụy và phân để phân tích mô bệnh học kết hợp kiểm tra qPCR định lượng.

moi-lien-he-giua-ehp-va-benh-phan-trang-wfs

Các mẫu tôm có biểu hiện WFS (phía trên bên trái); quan sát thấy sự đổi màu trắng của đường tiêu hóa đã loại bỏ (phải); Các khối gan tụy ướt hiển thị WFS cho thấy sự biến dạng và hắc tố nghiêm trọng của các ống gan tụy bị ảnh hưởng và sự vắng mặt của các tế bào R (phía dưới bên trái) (Nguồn: globalseafood)

Kết quả thu được cho thấy sự chênh lệch đáng kể về mật độ bản sao EHP giữa hai nhóm. Ở nhóm tôm xuất hiện WFS, số lượng bản sao EHP trung bình đạt mức khoảng 4 × 10⁷ bản sao/µl DNA, cao hơn rất nhiều so với nhóm không bị WFS chỉ khoảng 1 × 10⁵ bản sao/µl DNA. Điều này củng cố giả thuyết rằng tôm biểu hiện WFS thường có mức độ nhiễm EHP nặng hơn và nguy cơ lan truyền cao hơn.

Kiểm tra qPCR trên các dải phân trắng cũng cho thấy kết quả tương ứng: tôm có biểu hiện phân trắng mang lượng bản sao EHP lớn hơn đáng kể so với tôm không biểu hiện triệu chứng này. Đây được xem là bằng chứng quan trọng giúp xác định mối tương quan rõ ràng giữa WFS và tình trạng nhiễm EHP.

3.1. Bệnh phân trắng trên tôm (Hội chứng phân trắng – White Feces Syndrome – WFS) ở châu Mỹ

Sự xuất hiện của EHP trên tôm thẻ chân trắng tại bán cầu Tây được báo cáo lần đầu vào năm 2016. Tôm nhiễm EHP tại đây thể hiện các dấu hiệu tương tự như đã ghi nhận ở Đông Nam Á: ăn yếu, tăng trưởng kém và phân đàn không đồng đều.

Đến năm 2018, các nhà khoa học tiếp tục ghi nhận những trường hợp đầu tiên của Hội chứng phân trắng tại cùng khu vực nuôi nói trên. Các biểu hiện dải phân trắng nổi trên mặt nước và đường tiêu hóa có vật thể trắng kéo dài hoàn toàn giống với mô tả của WFS tại nhiều quốc gia Đông Nam Á.

xac-dinh-ehp-tren-tom-the-nhiem-wfs-o-my-la-tinh

Xác định EHP trên tôm thẻ(Penaeus vannamei) nhiễm WFS ở Mỹ Latinh. PCR được thực hiện để khuếch đại gen protein bào tử (SWP) (trái) và H&E của các mẫu được biểu thị trong hình bên phải (20X)

Những mẫu tôm biểu hiện WFS đã được phân tích cả bằng kỹ thuật mô học H&E và PCR để tìm kiếm tác nhân gây bệnh. Kết quả đối chiếu hình ảnh mô học và dữ liệu PCR cho thấy mối liên quan đáng kể giữa EHP và triệu chứng phân trắng tại khu vực này.

3.2. Tương quan giữa Bệnh hoại tử gan tụy trên tôm (Septic Hepatopancreatic Necrosis – SHPN) và Bệnh phân trắng trên tôm (Hội chứng phân trắng – White Feces Syndrome – WFS)

Ở cả hai khu vực nghiên cứu là Đông Nam Á và Mỹ Latinh, EHP không phải là tác nhân duy nhất có liên quan đến WFS. Phân tích mô bệnh học của gan tụy cho thấy ngoài nhiễm EHP, rất nhiều mẫu còn xuất hiện tổn thương đặc trưng của bệnh hoại tử gan tụy (SHPN).

bieu-hien-cua-hoai-tu-gan-tuy-tren-tom-the-tu-ao-co-wfs

Ví dụ về các biểu hiện của hoại tử gan tụy (SHPN) trên P. vannamei (10X) từ ao có WFS

SHPN chủ yếu do vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio gây bệnh hoặc các dòng Vibrio cơ hội. Trong điều kiện bình thường, Vibrio hiện diện trong gan tụy nhưng chưa gây hại. Tuy nhiên, khi hệ thống mô ống gan tụy bị tổn thương bởi mầm bệnh đường ruột nguyên phát như EHP, Vibrio dễ dàng xâm nhập sâu, phát triển và dẫn đến hoại tử gan tụy.

Sự kết hợp hai yếu tố gây bệnh này khiến tình trạng ở tôm trở nên nghiêm trọng hơn, làm chức năng tiêu hóa suy yếu và hình thành các biểu hiện liên quan WFS.

4. Kết luận

Những phát hiện từ các nghiên cứu tại nhiều quốc gia cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa EHP – WFS – SHPN trong các hệ thống nuôi thương phẩm. Điều này cho thấy Hội chứng phân trắng có thể không phải là một bệnh độc lập, mà là phản ứng sinh lý của tôm khi đồng thời chịu tác động từ:

  • Các mầm bệnh đường ruột như EHP.
  • Vi khuẩn cơ hội gây tổn thương gan tụy (đặc biệt là Vibrio spp.).

Nói cách khác, vi bào tử trùng Enterocytozoon Hepatopenaei không phải tác nhân trực tiếp gây bệnh phân trắng, nhưng chính việc EHP làm tôm suy yếu, đường ruột trống, vỏ mềm, giảm ăn đã tạo điều kiện thuận lợi khiến Vibrio spp. bùng phát và trở thành nguyên nhân trực tiếp hình thành WFS.

su-ket-hop-giua-vibrio-va-cac-yeu-to-moi-truong-khac-co-kha-nang-gay-benh-phan-trang-tren-tom

Sự kết hợp giữa nguyên nhân chính gây bệnh phân trắng (chủng vi khuẩn Vibrio spp. cơ hội) và (các) yếu tố môi trường (có thể chưa biết) có thể gây ra WFS ở các vùng lưu hành EHP (Nguồn: globalseafood)

Do đó, việc quản lý sức khỏe đường ruột, kiểm soát chất lượng môi trường và ngăn ngừa nhiễm EHP đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro xảy ra bệnh phân trắng trên tôm nuôi thâm canh và siêu thâm canh.

5. Một số giải pháp trong phòng ngừa và trị bệnh phân trắng trên tôm

5.1. Các giải pháp cũ (cách người nuôi thường sử dụng)

Hiện nay, người nuôi tôm đã sử dụng một số cách phòng và điều trị bệnh phân trắng trên tôm như sau:

5.1.1. Sử dụng kháng sinh tổng hợp

Đây là cách phổ biến nhất. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh như là sử dụng con dao hai lưỡi, mà mặt hại lại nhiều hơn mặt lợi, cụ thể:

  • Trong thời gian sử dụng kháng sinh, các hiện tượng bệnh phân trắng sẽ giảm hẳn và có thể hết. Lí do là bởi vì các loại kháng sinh đã ức chế các chủng vi khuẩn Vibrio, từ đó có thể giảm được hiện tượng viêm nhiễm ở đường ruột và gan tụy tôm.
  • Sau khi đã giảm được các hiện tượng viêm nhiễm ở đường ruột và gan tụy tôm thì các chức năng cơ bản của ruột và gan tôm sẽ dần phục hồi (chức năng tiêu hóa của ruột, chức năng phân giải của gan, …).
  • Tuy nhiên, do các loại kháng sinh chỉ có thể ức chế vi khuẩn Vibrio chứ không thể ức chế hay tiêu diệt được ký sinh trùng Gregarine nên sau khi ngừng sử dụng kháng sinh, Gregarin vẫn sẽ tiếp tục tiến hành vòng đời gây bệnh như trên, tôm sẽ tái nhiễm lại Vibrio và lại tiếp tục bị phân trắng.
  • Bên cạnh đó, kể cả khi có dùng kháng sinh ức chế và tiêu diệt hết vi khuẩn Vibrio, ngăn ngừa và chữa trị triệt để phân trắng, thì ký sinh trùng Gregarin vẫn còn tồn tại trong ruột tôm, chúng sẽ tiếp tục cạnh tranh dinh dưỡng với tôm, làm cho tôm chậm phát triển hơn rất nhiều.
  • Ngoài ra, việc sử dụng kháng sinh vô tội vạ, về lâu dài sẽ gây ra tình trạng kháng kháng sinh trên tôm, các chủng vi khuẩn Vibrio sẽ dần tiến hóa và kháng được cả các kháng sinh hiện tại, từ đó sẽ làm cho việc phòng và điều trị bệnh phân trắng bằng kháng sinh sẽ không còn hiệu quả nữa.

tinh-trang-khang-khang-sinh-rat-nguy-hiem

Sử dụng kháng sinh vô tội vạ sẽ gây ra tình trạng kháng kháng sinh (nguồn: internet)

5.1.2. Sử dụng kháng sinh tự nhiên

Một số tài liệu khoa học cũng chỉ ra việc sử dụng tỏi có tác dụng rất tốt trong việc phòng và điều trị các bệnh liên quan đến đường ruột tôm, đặc biệt là bệnh phân trắng.

Chất Alcin trong tỏi khi tiếp xúc với Oxy (O2) sẽ chuyển hóa thành Allicin, đây là một chất được coi là kháng sinh tự nhiên, có khả năng kháng khuẩn cực mạnh. Allicin có khả năng làm giảm cường độ cảm nhiễm ký sinh trùng Gregarine và ức chế các vi khuẩn Vibrio trong đường ruột tôm.

Tuy nhiên, bệnh phân trắng vẫn có khả năng tái phát vì sự hiện diện của ký sinh trùng Gregarine. Allicin trong tỏi chỉ có khả năng làm giảm cường độ cảm nhiễm ký sinh trùng Gregarine chứ không thể ức chế hay tiêu diệt hoàn toàn loài ký sinh này.

Bên cạnh đó, việc dùng tỏi trong một giai đoạn nuôi kéo dài, mặc dù có thể giảm chi phí (tiết kiệm hơn nhiều so với dùng kháng sinh tổng hợp) nhưng đòi hỏi sự kiên trì rất cao, phù hợp cho giai đoạn phòng bệnh là chính. Còn khi tôm đã phát bệnh phân trắng, rất ít người nuôi đủ kiên trì để sử dụng phương pháp này.

Ngoài ra, tỏi cũng có rất nhiều loại, được sản xuất dưới nhiều dạng khác nhau, người nuôi cần phân biệt rõ từng loại để ứng dụng cho phù hợp.

Tiêu chí so sánhBột Tỏi | Chiết xuất Tỏi (Garlic extract powder)Dịch chiết Tỏi | Tinh dầu Tỏi (Garlic extract liquid)Chế phẩm vi sinh tỏi (men vi sinh tỏi)
Trạng tháiDạng bộtDạng dầuDạng hỗn dịch
Khả năng tanKhông tanKhông tanTan trong nước
Cách dùng cho chăn nuôiTrộn với cámTrộn với cámTrộn với cám hoặc với nước
Giá cảTrung bìnhĐắtRẻ
Hình ảnh sản phẩmbot-toi-chiet-xuat-toi-garlic-extract-powder

Bột Tỏi | Chiết xuất Tỏi (Garlic extract powder)

dich-chiet-toi-tinh-dau-toi-garlic-extract-liquid

Dịch chiết Tỏi | Tinh dầu Tỏi (Garlic extract liquid)

che-pham-vi-sinh-toi-men-vi-sinh-toi-ket-hop-vi-sinh-va-toi-tuoi

Chế phẩm vi sinh tỏi (men vi sinh tỏi)

5.2. Các giải pháp mới

5.2.1. Giải pháp phòng ngừa bệnh phân trắng

Trong số các giải pháp mới nhất về vấn đề bệnh phân trắng trên tôm (Hội chứng phân trắng – White Feces Syndrome – WFS), các chuyên gia đều tập trung vào khâu phòng bệnh là chính.

Sau đây là một số giải pháp từ Dr. Chalor Limsuwan (chuyên gia thủy sản hàng đầu thế giới), người nuôi tôm có thể tham khảo:

  • Xử lý ao thật kỹ trước khi thả giống. Đối với ao bạt thì phải chà bạt và chùi rửa thật kỹ. Đối với ao đất thì phải loại bỏ hoàn toàn, dọn dẹp sạch sẽ các chất cặn bã và bùn thải dưới ao.
  • Nước trước khi cấp vào ao nuôi để nuôi thì cần phải được xử lý hóa chất thật mạnh để loại bỏ các loại ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh.
  • Trong trường hợp ao nuôi đã có tôm, người nuôi nên xử lý diệt khuẩn bằng các chất diệt khuẩn an toàn với tôm, ví dụ như Glutaraldehyde và Coco-QAC (Cocobenzyl dimethyl ammonium chlorides). Lưu ý rằng lúc này, tôm đang yếu, hạn chế sử dụng các chất diệt khuẩn mạnh sẽ làm ảnh hưởng đến tôm.
  • Kiểm soát cho bằng được lượng thức ăn cho tôm ăn, không cho tôm ăn dư thừa. Người nuôi tôm cần phải ước lượng và tính toán cho chính xác tỷ lệ sống của tôm, cùng với lượng thức ăn cụ thể dựa trên tỷ lệ phần trăm trọng lượng trung bình của tôm, cụ thể:
    • Lượng thức ăn vào thời điểm thả giống chỉ nên giới hạn vào khoảng 2 kg thức ăn cho 100.000 con tôm giống.
    • Tôm sau 30 ngày thả nuôi, lượng thức ăn chỉ nên giới hạn ở mức 200 kg thức ăn cho 100.000 con tôm.
  • Hàm lượng oxy hòa tan ở trong ao nuôi cần được duy trì ở mức cao và ổn định, thấp nhất là trong khoảng từ 3,5 ppm đến 4ppm. Để duy trì hàm lượng oxy hòa tan ở mức nêu trên, cần cung cấp hệ thống quạt nước và hệ thống sủi oxy sao cho phù hợp.
  • Trong quá trình cho ăn, người nuôi nên bổ sung chế phẩm vi sinh, men vi sinh hoặc men tiêu hóa để hỗ trợ quá trình phòng ngừa bệnh phân trắng hoặc hồi phục đường ruột tôm sau khi điều trị bệnh phân trắng trên tôm.

aqua-omnicide

Aqua Omnicide là một trong những sản phẩm diệt khuẩn hàng đầu trên thế giới, với thành phần là Glutaraldehyde và Coco-QAC (Cocobenzyl dimethyl ammonium chlorides) cho khả năng tiêu diệt hoàn toàn virus, vi khuẩn, ký sinh trùng nhưng cực kì an toàn cho tôm (Nguồn: Minirus)

5.2.2. Phác đồ điều trị bệnh phân trắng trên tôm (Hội chứng phân trắng – White Feces Syndrome – WFS)

Khi tôm bệnh phân trắng, cần có phác đồ điều trị hợp lý. Sau đây, Công Ty Cổ Phần Sinh Học Bio C.T xin giới thiệu phác đồ điều trị bệnh phân trắng để quý bà con tham khảo:

Bước 1: Xử lý môi trường nuôi

  • Đầu tiên, cần giảm bớt từ 30% đến 50% lượng thức ăn, cho đến khi hoàn tất xong bước xử lý môi trường.
  • Nâng mức hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi lên mức cao nhất (mở hết toàn bộ quạt và cho chạy liên tục 24/7).
  • Diệt khuẩn bằng các chất diệt khuẩn an toàn với tôm, ví dụ như Glutaraldehyde và Coco-QAC (Cocobenzyl dimethyl ammonium chlorides). Lưu ý rằng lúc này, tôm đang yếu, hạn chế sử dụng các chất diệt khuẩn mạnh sẽ làm ảnh hưởng đến tôm.
  • Sau khi diệt khuẩn từ 36 đến 48 giờ, dùng các vi sinh chủng Trực khuẩn Bacillus sp. kết hợp với vi sinh Rhodobacter để tạo hệ vi sinh có lợi và ổn định môi trường nuôi.
baci-c.t-che-pham-sinh-hoc-xu-ly-daybacillus-subtilis-nguyen-lieurhodobacter-vi-khuan-quang-hop-men-thoi-2

Bacillus Subtilis và Rhodobacter là những dòng vi sinh mạnh mẽ chuyên xử lý môi trường và cung cấp lợi khuẩn cho ao nuôi

Bước 2: Trộn cho ăn

  • Trong vòng 7 ngày đầu tiên: trộn cho ăn BACZYM C.T – Men tiêu hóa với liều dùng 5g cho 1 kg thức ăn, cho ăn tất cả các cử trong ngày.
  • Sau 7 ngày: trộn thêm các loại enzyme và các chủng vi sinh như Lactobacillus Acidophilus để ổn định đường ruột tôm.
baczym-c.t-men-tieu-hoa-nong-to-duong-ruotlactobacillus-acidophilus-nguyen-lieu

Cốt lõi của phác đồ điều trị trên là giải quyết triệt để, bắt nguồn từ nguyên nhân gây bệnh, đó là các tác nhân như tảo độc, nấm mốc, Gregarines, Vermiform, EHP và nguyên nhân chính, là các chủng vi khuẩn Vibrio spp.


Thông tin chi tiết hoặc nhận báo giá, vui lòng liên hệ:

Hotline/Zalo: 035 49 49 808

Email: bioct.vn@gmail.com

Bio C.T - Chuyên men vi sinh và hoạt chất thủy sản

baczym-c.t-men-tieu-hoa-nong-to-duong-ruot-2

baci-c.t-che-pham-sinh-hoc-xu-ly-day-2

bio-no2-c.t-che-pham-sinh-hoc-xu-ly-khi-doc-2

Công Ty Cổ Phần Sinh Học Bio C.T (Bio C.T Biology JSC) chuyên sản xuất và phân phối các loại chế phẩm sinh học cho thủy sản (men vi sinh thủy sản, men tiêu hóa, men xử lý, enzyme các loại, ...) và các hoạt chất chuyên dùng cho thủy sản.

Thông tin tác giả

Author Avatar

Bio C.T

Công Ty Cổ Phần Sinh Học Bio C.T chuyên sản xuất và phân phối các loại chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa, men xử lý, enzyme các loại, ...) và các hoạt chất chuyên dùng cho thủy sản.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Hotline: 035 49 49 808
Zalo: 035 49 49 808