Tóm tắt
- Loại ký sinh trùng này thường chọn đường ruột làm nơi ký sinh và gây nên các bệnh lý đặc trưng, trong đó phổ biến nhất là Hội chứng phân trắng trên tôm (White Feces Syndrome – WFS).
- Trước khi xâm nhập và phát triển bên trong cơ thể tôm – đối tượng vật chủ cuối cùng, Gregarine lại ký sinh tạm thời trên những loài khác trong môi trường như giun nhiều tơ sống dưới đáy ao hoặc các nhóm nhuyễn thể hai mảnh vỏ như nghêu, sò, hàu, trai, điệp,.
- Trước khi ký sinh trên vật chủ cuối cùng là tôm (ký chủ cuối cùng), Ký sinh trùng Gregarine sẽ ký sinh qua vật chủ trung gian (ký chủ trung gian) là giun đốt sống nền đáy và các nhuyễn thể hai mảnh vỏ (nghêu, hàu, sò nứa, trai, điệp, .
- Lúc này, nếu tôm ăn các loại vật chủ trung gian có kén bào tử trong đường ruột hoặc thức ăn có kén bào tử bám dính trên đó, thì tôm sẽ bị nhiễm ký sinh trùng Gregarine.
- Ký sinh trùng Gregarin trưởng thành sẽ tiếp tục sinh sản, tạo thành các bào tử và phát triển tiếp qua vài giai đoạn tạo thành bào tử (zygospore) có hợp tử (zygote).
Ký sinh trùng Gregarine là một tác nhân quan trọng gây ra các vấn đề nghiêm trọng trên hệ tiêu hóa của tôm nuôi. Loại ký sinh trùng này thường chọn đường ruột làm nơi ký sinh và gây nên các bệnh lý đặc trưng, trong đó phổ biến nhất là Hội chứng phân trắng trên tôm (White Feces Syndrome – WFS).
Trước khi xâm nhập và phát triển bên trong cơ thể tôm – đối tượng vật chủ cuối cùng, Gregarine lại ký sinh tạm thời trên những loài khác trong môi trường như giun nhiều tơ sống dưới đáy ao hoặc các nhóm nhuyễn thể hai mảnh vỏ như nghêu, sò, hàu, trai, điệp,… Đây chính là mắt xích trung gian giúp ký sinh trùng Gregarine lan truyền và tấn công vào đối tượng nuôi.
1. Ký sinh trùng Gregarin là gì
Gregarine là một loài ký sinh trùng thuộc nhóm trùng hai roi, gây bệnh trực tiếp ở đường ruột tôm thẻ và tôm sú. Khi quan sát ruột của tôm mắc bệnh phân trắng dưới kính hiển vi, gần như luôn phát hiện sự hiện diện của loài ký sinh trùng này với mật độ khác nhau tùy mức độ bệnh.
Theo phân loại sinh học, Gregarine thuộc ngành Apicomplexa – đặc trưng bởi cơ thể phân chia thành hai phần chính: phần trước gọi là Protomerite (P) và phần sau là Deutomerite (D). Cả hai phần đều mang nhân tế bào có cấu trúc rõ ràng, dễ quan sát khi soi kính hiển vi ở mức độ phóng đại từ 100 đến 400 lần.

ký sinh trùng Gregarin dưới kính hiển vi và trên thực tế (nguồn: internet)
Đặc biệt, ở đầu phần tế bào phía trước của Gregarine có cơ quan bám được gọi là Epimerite (E). Với cấu trúc này, ký sinh trùng bám chặt vào lớp biểu mô ruột tôm, cản trở sự tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tổn thương ruột tôm và hình thành triệu chứng phân trắng trên ao nuôi, làm tôm yếu dần, giảm tốc độ tăng trưởng và dễ bị nhiễm khuẩn cơ hội.
2. Ký sinh trùng Gregarin xuất hiện ở đâu
Vòng đời của ký sinh trùng Gregarine tương đối đơn giản. Ký sinh trùng Gregarine sẽ trải qua hai lần ký sinh trên hai vật chủ. Trước khi ký sinh trên vật chủ cuối cùng là tôm (ký chủ cuối cùng), Ký sinh trùng Gregarine sẽ ký sinh qua vật chủ trung gian (ký chủ trung gian) là giun đốt sống nền đáy và các nhuyễn thể hai mảnh vỏ (nghêu, hàu, sò nứa, trai, điệp, …).
Vòng đời của Ký sinh trùng Gregarine được mô tả đơn giản như sau:
- Kén bào tử (sporocyst) tồn tại bên trong đường ruột của vật chủ trung gian. sau đó được thải ra ngoài theo đường phân. Lúc này, nếu tôm ăn các loại vật chủ trung gian có kén bào tử trong đường ruột hoặc thức ăn có kén bào tử bám dính trên đó, thì tôm sẽ bị nhiễm ký sinh trùng Gregarine.
- Kén bào tử sau khi vào đường tiêu hóa tôm sẽ sinh sôi nảy nở thành hạt bào tử (sporozoite) rồi bám vào phần gai lồi trong dạ dày hay tế bào biểu mô ruột trước.
- Sau đó, hạt bào tử sẽ phát triển thành thể dinh dưỡng (trophozoite). Trải qua quá trình hấp thu dinh dưỡng, thể dinh dưỡng sẽ phát triển thành ký sinh trưởng thành (trophont) và hoàn thành vòng đời.
- Ký sinh trùng Gregarin trưởng thành sẽ tiếp tục sinh sản, tạo thành các bào tử và phát triển tiếp qua vài giai đoạn tạo thành bào tử (zygospore) có hợp tử (zygote).
- Bào tử có hợp tử sẽ theo đường tiêu hóa của tôm, theo phân tôm ra ngoài và lại tiếp tục nhiễm vào các vật chủ trung gian, bắt đầu một vòng đời mới.

Mô tả vòng đời của ký sinh trùng Gregarine trên tôm
Quy trình có thể mô tả theo chu trình sau:
- Tôm ăn phải thức ăn hoặc sinh vật bị nhiễm kén bào tử Gregarine.
- Kén bào tử di chuyển vào ruột tôm và bắt đầu tấn công lớp tế bào biểu mô ruột.
- Chúng phát triển thành thể dinh dưỡng, bám chắc vào thành ruột và sinh trưởng mạnh.
- Ở giai đoạn cuối ruột (trực tràng), chúng phát triển tiếp thành thể giao tử (gametocysts).
- Thể giao tử phân chia nhiều lần để tạo ra hàng loạt bào tử mới (gymnospores).
- Các bào tử được nhuyễn thể hai mảnh vỏ hấp thu hoặc bám vào lớp màng bảo vệ bên ngoài.
- Bào tử phát triển bên trong cơ thể sinh vật trung gian.
- Các sinh vật này theo bài tiết hoặc dịch tiết giải phóng bào tử vào nước, làm nguồn lây lan liên tục.
Từ vòng đời này, có thể khẳng định rằng mầm bệnh Gregarine luôn tồn tại dai dẳng trong môi trường nuôi, đặc biệt là ở những ao nuôi không được cải tạo kỹ lưỡng sau mỗi vụ thu hoạch. Chỉ cần nguồn nước cấp vào bị nhiễm bào tử, hoặc đáy ao còn tồn lưu trứng và vật chủ trung gian chưa được xử lý triệt để, nguy cơ bùng phát bệnh phân trắng là rất cao.
Sự xuất hiện của ký sinh trùng Gregarine trên tôm thường là lời cảnh báo về hệ sinh thái ao đang mất cân bằng, môi trường đáy ao ô nhiễm và công tác quản lý thức ăn chưa đảm bảo an toàn.
3. Cơ chế gây bệnh phân trắng trên tôm do ký sinh trùng Gregarine
Quá trình gây bệnh phân trắng trên tôm do ký sinh trùng Gregarine diễn ra theo một cơ chế tương đối phức tạp. Khi xâm nhập vào đường ruột tôm, chúng sử dụng bộ phận bám chuyên biệt ở đầu để dính chặt lên các tế bào biểu mô ruột.
Một khi đã bám được vào vị trí này, Gregarine bắt đầu cạnh tranh trực tiếp nguồn dinh dưỡng với vật chủ. Điều đó khiến tôm không còn hấp thu được đầy đủ dưỡng chất để phục vụ quá trình sinh trưởng, năng lượng cho hoạt động và phát triển của cơ thể cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Đồng thời, số lượng ký sinh trùng càng nhiều thì diện tích lòng ruột bị chiếm chỗ càng lớn. Hệ tiêu hóa bị thu hẹp làm giảm hiệu suất tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Không chỉ vậy, sự hiện diện quá mức của Gregarine còn gây kích ứng và tổn thương cấu trúc biểu mô ruột, làm rối loạn hệ miễn dịch niêm mạc.
Khi lớp bảo vệ đường ruột bị suy yếu, vi khuẩn cơ hội như Vibrio sẽ dễ dàng xâm nhập, tấn công dữ dội dẫn đến viêm nhiễm đường ruột. Đây chính là yếu tố then chốt khiến bệnh phân trắng phát triển mạnh và trở nên trầm trọng.

Mô tả cơ chế gây bệnh phân trắng trên tôm của ký sinh trùng Gregarine
Tóm tắt lại cơ chế gây bệnh phân trắng trên tôm của Ký sinh trùng Gregarin, cụ thể như sau:
- Ký sinh trùng Gregarin sẽ bám vào các tế bào biểu mô ở ruột tôm.
- Ký sinh trùng Gregarin sẽ tranh dành chất dinh dưỡng của tôm ⇒ tôm không hấp thụ được chất dinh dưỡng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển.
- Ký sinh trùng Gregarin chiếm không gian bên trong đường ruột tôm (trong lòng ống tiêu hóa), làm suy giảm hệ miễn dịch của tôm (thay đổi đáp ứng miễn dịch) và gây tổn thương đến các tế bào biểu mô bên trong đường tiêu hóa ⇒ tạo điều kiện cho sự xâm nhập và tấn công của vi khuẩn Vibrio.
4. Các dấu hiệu nhận biết bệnh phân trắng do ký sinh trùng Gregarine
Thông thường, những biểu hiện điển hình của bệnh phân trắng gây ra bởi Gregarine sẽ xuất hiện rõ rệt sau khoảng 60 ngày thả nuôi trong ao thương phẩm. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng ghi nhận rằng ký sinh trùng này có thể xuất hiện sớm ngay từ giai đoạn tôm giống (giai đoạn post) trong trại sản xuất, chỉ là chưa đủ mức độ để tạo thành bệnh nặng.
Khi bệnh bắt đầu bùng phát trong ao, người nuôi có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường các cọng phân màu trắng lờ lững nổi trên bề mặt nước. Những sợi phân trắng này thường dạt về cuối hướng gió hoặc gom lại nhiều ở góc ao khi tắt quạt nước. Đó là tín hiệu đầu tiên cho thấy đường ruột tôm đã bị tổn thương và suy yếu.
Sau khoảng một tuần đến mười ngày, lượng phân trắng trong ao xuất hiện dày hơn và lan rộng nhiều vị trí trên mặt nước, khiến người nuôi rất dễ dàng nhận biết khi đi kiểm tra xung quanh ao. Lúc này, mổ tôm kiểm tra sẽ thấy ruột xuất hiện đoạn phân trắng kéo dài. Khi quan sát gan tụy, cơ quan này thường bị phù to, chuyển sang trạng thái mềm nhũn và cực kỳ dễ vỡ khi chạm vào. Cũng từ giai đoạn đó, tôm bắt đầu chết rải rác trong ao.

Những cọng phân trắng nổi trên mặt ao (nguồn: Mỹ Bình)
Bệnh tiếp tục tiến triển nặng hơn từ ngày thứ mười trở đi. Gan tụy tôm dần teo nhỏ lại, kèm theo hiện tượng cơ thể tôm bị ốp, thịt không đầy vỏ, sức ăn giảm mạnh. Tỷ lệ chết gia tăng theo từng ngày và có thể gây thiệt hại lớn nếu không kiểm soát kịp thời.

Dấu hiệu tổng thể của bệnh phân trắng trên tôm
(a): chuỗi phân trắng nổi trên ao; (b): dây phân trắng xuất hiện trong khay ăn (nhá / vó); (c) hạt dầu (hạt mỡ, có hình dáng như hạt gạo) trong đường ruột tôm; (d) ký sinh trùng Gregarin trong đường ruột tôm; (e) ruột tôm bị nhiễm ký sinh trùng, quan sát bằng kính hiển vi; (f) tôm bị ốp thân và bắt đầu chết dần
(nguồn: Siriporn Sriurairatana, Visanu Boonyawiwat, Warachin Gangnonngiw, Chaowanee Laosutthipong,
Jindanan Hiranchan, Timothy W. Flegel)
Điều đáng lo ngại nhất là những tế bào gan tụy bị tổn thương bởi ký sinh trùng Gregarine gần như không còn khả năng hồi phục. Mặc dù người nuôi có thể sử dụng kháng sinh hoặc biện pháp điều trị để giúp tôm hết hiện tượng phân trắng, nhưng gan tụy đã mất chức năng sinh lý bình thường nên tôm không còn phát triển tốt được nữa. Tốc độ tăng trưởng bị chậm lại đáng kể, thậm chí tôm có thể ngừng lớn hoàn toàn.
Chính vì lý do đó, nhiều hộ nuôi dù đã điều trị bệnh thành công nhưng vẫn thất thu về cuối vụ: tôm nhỏ, ốp thân và chất lượng thương phẩm kém. Vấn đề mấu chốt không nằm ở thuốc điều trị, mà nằm ở hậu quả khó hồi phục của mô gan tụy sau khi bị ký sinh trùng Gregarine xâm hại.
Đó là lí do tại sao khi chữa bệnh phân trắng cho tôm bằng kháng sinh, tôm có thể hết bệnh phân trắng nhưng tôm sẽ chậm lớn hơn (có khi không thể lớn nữa được nữa). Nguyên nhân không phải do kháng sinh kìm hãm sự phát triển của tôm, mà bởi vì những tổn thương ở gan tụy đã không thể phục hồi được, dẫn đến tôm không thể lớn được.
5. Giải thích diễn tiến của bệnh phân trắng trên tôm khi bị ký sinh trùng Gregarine ký sinh
Khi ký sinh trùng Gregarine xâm nhập và cư trú bên trong cơ thể tôm, quá trình gây bệnh diễn ra theo từng giai đoạn nối tiếp nhau, với mức độ ngày càng nghiêm trọng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời. Toàn bộ tiến trình đó có thể hiểu như sau:
- Ban đầu, khi tôm bị nhiễm Gregarine ở mức độ nặng, số lượng ký sinh trùng tăng sinh nhanh chóng và chiếm gần như toàn bộ không gian bên trong ống tiêu hóa.
- Phần lòng ruột vốn có nhiệm vụ chứa và vận chuyển thức ăn sẽ bị thu hẹp lại đáng kể. Không còn đủ diện tích để chứa thức ăn sẽ khiến tôm giảm khả năng ăn, ăn kém hơn bình thường, dẫn đến thiếu hụt năng lượng một cách rõ rệt.
- Không dừng lại ở đó, Gregarine bám chặt vào niêm mạc ruột và bắt đầu gây tổn thương lớp tế bào biểu mô tại đây. Việc xuất hiện các vùng tổn thương trên thành ruột là điều kiện thuận lợi để các vi khuẩn cơ hội, đặc biệt là nhóm Vibrio đang tồn tại sẵn trong nguồn nước hoặc ngay trong đường ruột, nhanh chóng xâm nhập sâu vào các tổ chức của cơ thể.
- Khi Vibrio bùng phát, hiện tượng viêm ruột xuất hiện và ngày càng nghiêm trọng.
- Ruột bị viêm sẽ tăng tiết chất nhầy, trong khi dịch tiêu hóa lại giảm sút mạnh. Điều này khiến thức ăn khó phân giải, khó hấp thu và cuối cùng là bị tống ra ngoài dưới dạng phân trắng — dấu hiệu điển hình nhất của bệnh.
- Lúc này, phân trắng xuất hiện ngày một nhiều hơn và dễ dàng quan sát khi tắt quạt nước.
- Ban đầu, vi khuẩn chỉ tấn công tại ruột, nhưng theo thời gian, khi sức khỏe tôm suy giảm và hệ miễn dịch gần như không còn khả năng chống lại tác nhân gây hại, Vibrio sẽ lan rộng ra toàn bộ cơ thể.
- Nội tạng, đặc biệt là gan tụy, trở thành mục tiêu tấn công trực tiếp. Gan tụy nhanh chóng sưng lên, sau đó cấu trúc bị phá hủy nghiêm trọng.
- Một khi gan tụy bị viêm hoại, việc tiết enzyme tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất gần như không thể tiếp tục. Tôm rơi vào tình trạng suy kiệt. Đây là giai đoạn mà bệnh phân trắng tiến triển nặng và bước sang giai đoạn cuối của Hội chứng phân trắng (White Feces Syndrome – WFS).
- Lúc đầu, gan tụy sưng to do nhiễm khuẩn. Nhưng khi vi khuẩn tăng sinh với mật độ cao hơn, các mô gan tụy bắt đầu thoái hóa nhanh chóng và teo nhỏ dần theo thời gian.
- Khi gan tụy gần như mất hoàn toàn chức năng tiêu hóa và dự trữ dưỡng chất, cơ thể tôm sẽ kiệt quệ và không thể duy trì sự sống thêm được nữa.
- Hậu quả cuối cùng chính là hiện tượng tôm chết hàng loạt, thiệt hại trầm trọng cho vụ nuôi nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.
6. Cách chẩn đoán và nhận biết bệnh phân trắng trên tôm do ký sinh trùng Gregarine
Cũng giống như mọi loại bệnh trong nuôi tôm, việc phát hiện và chẩn đoán bệnh phân trắng càng sớm thì khả năng điều trị thành công càng cao và giảm thiểu mức thiệt hại kinh tế tối đa. Việc nhận biết bệnh do Gregarine gây ra không quá phức tạp và hoàn toàn có thể thực hiện ngay tại trại nuôi.
Phương pháp chính xác và nhanh chóng nhất là soi tươi mẫu ruột tôm dưới kính hiển vi. Chỉ cần độ phóng đại khoảng 100 lần, người nuôi đã có thể dễ dàng nhìn thấy ký sinh trùng Gregarine di chuyển bên trong ruột. Nếu số lượng ký sinh trùng phát hiện được cao hơn 10 cá thể Gregarine trên mỗi gram trọng lượng tôm, có thể đánh giá đây là trường hợp nhiễm nặng và cần xử lý ngay.

Soi tươi đường ruột tôm và phát hiện kén ký sinh trùng Gregarine và như ký sinh trùng Gregarine trưởng thành
(nguồn: Vinhthinh Biostadt)
Ngoài ra, khi bệnh mới bắt đầu, người nuôi có thể quan sát một số đặc điểm bất thường bằng mắt thường. Một trong những biểu hiện sớm là trong ruột tôm xuất hiện các hạt trắng nhỏ, bóng như hạt gạo — vốn là phần dầu mỡ bị ứ đọng do thức ăn không được tiêu hóa hoàn toàn, hoặc do lipid bị đẩy ngược từ gan tụy về lại ruột.
Khi thấy những dấu hiệu này, cần tiến hành kiểm tra kỹ hơn và đưa ra phác đồ can thiệp sớm để tránh bệnh chuyển sang giai đoạn nặng, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ phát triển và tỷ lệ sống của tôm trong suốt vụ nuôi.
7. Một số giải pháp trong phòng và trị bệnh phân trắng do ký sinh trùng Gregarin kết hợp với vi khuẩn Vibrio cơ hội
7.1. Các giải pháp cũ (cách người nuôi thường sử dụng)
Hiện nay, người nuôi tôm đã sử dụng một số cách phòng và điều trị bệnh phân trắng do ký sinh trùng gregarin kết hợp với vi khuẩn Vibrio cơ hội như sau:
7.1.1. Sử dụng kháng sinh tổng hợp
Đây là cách phổ biến nhất. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh như là sử dụng con dao hai lưỡi, mà mặt hại lại nhiều hơn mặt lợi, cụ thể:
- Trong thời gian sử dụng kháng sinh, các hiện tượng bệnh phân trắng sẽ giảm hẳn và có thể hết. Lí do là bởi vì các loại kháng sinh đã ức chế các chủng vi khuẩn Vibrio, từ đó có thể giảm được hiện tượng viêm nhiễm ở đường ruột và gan tụy tôm.
- Sau khi đã giảm được các hiện tượng viêm nhiễm ở đường ruột và gan tụy tôm thì các chức năng cơ bản của ruột và gan tôm sẽ dần phục hồi (chức năng tiêu hóa của ruột, chức năng phân giải của gan, …).
- Tuy nhiên, do các loại kháng sinh chỉ có thể ức chế vi khuẩn Vibrio chứ không thể ức chế hay tiêu diệt được ký sinh trùng Gregarine nên sau khi ngừng sử dụng kháng sinh, Gregarin vẫn sẽ tiếp tục tiến hành vòng đời gây bệnh như trên, tôm sẽ tái nhiễm lại Vibrio và lại tiếp tục bị phân trắng.
- Bên cạnh đó, kể cả khi có dùng kháng sinh ức chế và tiêu diệt hết vi khuẩn Vibrio, ngăn ngừa và chữa trị triệt để phân trắng, thì ký sinh trùng Gregarin vẫn còn tồn tại trong ruột tôm, chúng sẽ tiếp tục cạnh tranh dinh dưỡng với tôm, làm cho tôm chậm phát triển hơn rất nhiều.
- Ngoài ra, việc sử dụng kháng sinh vô tội vạ, về lâu dài sẽ gây ra tình trạng kháng kháng sinh trên tôm, các chủng vi khuẩn Vibrio sẽ dần tiến hóa và kháng được cả các kháng sinh hiện tại, từ đó sẽ làm cho việc phòng và điều trị bệnh phân trắng bằng kháng sinh sẽ không còn hiệu quả nữa.

Sử dụng kháng sinh vô tội vạ sẽ gây ra tình trạng kháng kháng sinh (nguồn: internet)
7.1.2. Sử dụng kháng sinh tự nhiên
Một số tài liệu khoa học cũng chỉ ra việc sử dụng tỏi có tác dụng rất tốt trong việc phòng và điều trị các bệnh liên quan đến đường ruột tôm, đặc biệt là bệnh phân trắng.
Chất Alcin trong tỏi khi tiếp xúc với Oxy (O2) sẽ chuyển hóa thành Allicin, đây là một chất được coi là kháng sinh tự nhiên, có khả năng kháng khuẩn cực mạnh. Allicin có khả năng làm giảm cường độ cảm nhiễm ký sinh trùng Gregarine và ức chế các vi khuẩn Vibrio trong đường ruột tôm.
Tuy nhiên, bệnh phân trắng vẫn có khả năng tái phát vì sự hiện diện của ký sinh trùng Gregarine. Allicin trong tỏi chỉ có khả năng làm giảm cường độ cảm nhiễm ký sinh trùng Gregarine chứ không thể ức chế hay tiêu diệt hoàn toàn loài ký sinh này.
Bên cạnh đó, việc dùng tỏi trong một giai đoạn nuôi kéo dài, mặc dù có thể giảm chi phí (tiết kiệm hơn nhiều so với dùng kháng sinh tổng hợp) nhưng đòi hỏi sự kiên trì rất cao, phù hợp cho giai đoạn phòng bệnh là chính. Còn khi tôm đã phát bệnh phân trắng, rất ít người nuôi đủ kiên trì để sử dụng phương pháp này.
Ngoài ra, tỏi cũng có rất nhiều loại, được sản xuất dưới nhiều dạng khác nhau, người nuôi cần phân biệt rõ từng loại để ứng dụng cho phù hợp.
| Tiêu chí so sánh | Bột Tỏi | Chiết xuất Tỏi (Garlic extract powder) | Dịch chiết Tỏi | Tinh dầu Tỏi (Garlic extract liquid) | Chế phẩm vi sinh tỏi (men vi sinh tỏi) |
| Trạng thái | Dạng bột | Dạng dầu | Dạng hỗn dịch |
| Khả năng tan | Không tan | Không tan | Tan trong nước |
| Cách dùng cho chăn nuôi | Trộn với cám | Trộn với cám | Trộn với cám hoặc với nước |
| Giá cả | Trung bình | Đắt | Rẻ |
| Hình ảnh sản phẩm | ![]() Bột Tỏi | Chiết xuất Tỏi (Garlic extract powder) | ![]() Dịch chiết Tỏi | Tinh dầu Tỏi (Garlic extract liquid) | ![]() Chế phẩm vi sinh tỏi (men vi sinh tỏi) |
7.2. Các giải pháp mới
7.2.1. Giải pháp phòng ngừa bệnh phân trắng
Trong số các giải pháp mới nhất về vấn đề bệnh phân trắng trên tôm (Hội chứng phân trắng – White Feces Syndrome – WFS), các chuyên gia đều tập trung vào khâu phòng bệnh là chính.
Sau đây là một số giải pháp từ Dr. Chalor Limsuwan (chuyên gia thủy sản hàng đầu thế giới), người nuôi tôm có thể tham khảo:
- Xử lý ao thật kỹ trước khi thả giống. Đối với ao bạt thì phải chà bạt và chùi rửa thật kỹ. Đối với ao đất thì phải loại bỏ hoàn toàn, dọn dẹp sạch sẽ các chất cặn bã và bùn thải dưới ao.
- Nước trước khi cấp vào ao nuôi để nuôi thì cần phải được xử lý hóa chất thật mạnh để loại bỏ các loại ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh.
- Trong trường hợp ao nuôi đã có tôm, người nuôi nên xử lý diệt khuẩn bằng các chất diệt khuẩn an toàn với tôm, ví dụ như Glutaraldehyde và Coco-QAC (Cocobenzyl dimethyl ammonium chlorides). Lưu ý rằng lúc này, tôm đang yếu, hạn chế sử dụng các chất diệt khuẩn mạnh sẽ làm ảnh hưởng đến tôm.
- Kiểm soát cho bằng được lượng thức ăn cho tôm ăn, không cho tôm ăn dư thừa. Người nuôi tôm cần phải ước lượng và tính toán cho chính xác tỷ lệ sống của tôm, cùng với lượng thức ăn cụ thể dựa trên tỷ lệ phần trăm trọng lượng trung bình của tôm, cụ thể:
- Lượng thức ăn vào thời điểm thả giống chỉ nên giới hạn vào khoảng 2 kg thức ăn cho 100.000 con tôm giống.
- Tôm sau 30 ngày thả nuôi, lượng thức ăn chỉ nên giới hạn ở mức 200 kg thức ăn cho 100.000 con tôm.
- Hàm lượng oxy hòa tan ở trong ao nuôi cần được duy trì ở mức cao và ổn định, thấp nhất là trong khoảng từ 3,5 ppm đến 4ppm. Để duy trì hàm lượng oxy hòa tan ở mức nêu trên, cần cung cấp hệ thống quạt nước và hệ thống sủi oxy sao cho phù hợp.
- Trong quá trình cho ăn, người nuôi nên bổ sung chế phẩm vi sinh, men vi sinh hoặc men tiêu hóa để hỗ trợ quá trình phòng ngừa bệnh phân trắng hoặc hồi phục đường ruột tôm sau khi điều trị bệnh phân trắng trên tôm.
Aqua Omnicide là một trong những sản phẩm diệt khuẩn hàng đầu trên thế giới, với thành phần là Glutaraldehyde và Coco-QAC (Cocobenzyl dimethyl ammonium chlorides) cho khả năng tiêu diệt hoàn toàn virus, vi khuẩn, ký sinh trùng nhưng cực kì an toàn cho tôm (Nguồn: Minirus)
7.2.2. Phác đồ điều trị bệnh phân trắng trên tôm (Hội chứng phân trắng – White Feces Syndrome – WFS)
Khi tôm bệnh phân trắng, cần có phác đồ điều trị hợp lý. Sau đây, Công Ty Cổ Phần Sinh Học Bio C.T xin giới thiệu phác đồ điều trị bệnh phân trắng để quý bà con tham khảo:
Bước 1: Xử lý môi trường nuôi
- Đầu tiên, cần giảm bớt từ 30% đến 50% lượng thức ăn, cho đến khi hoàn tất xong bước xử lý môi trường.
- Nâng mức hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi lên mức cao nhất (mở hết toàn bộ quạt và cho chạy liên tục 24/7).
- Diệt khuẩn bằng các chất diệt khuẩn an toàn với tôm, ví dụ như Glutaraldehyde và Coco-QAC (Cocobenzyl dimethyl ammonium chlorides). Lưu ý rằng lúc này, tôm đang yếu, hạn chế sử dụng các chất diệt khuẩn mạnh sẽ làm ảnh hưởng đến tôm.
- Sau khi diệt khuẩn từ 36 đến 48 giờ, dùng các vi sinh chủng Trực khuẩn Bacillus sp. kết hợp với vi sinh Rhodobacter để tạo hệ vi sinh có lợi và ổn định môi trường nuôi.
![]() | ![]() | ![]() |
Bacillus Subtilis và Rhodobacter là những dòng vi sinh mạnh mẽ chuyên xử lý môi trường và cung cấp lợi khuẩn cho ao nuôi
Bước 2: Trộn cho ăn
- Trong vòng 7 ngày đầu tiên: trộn cho ăn BACZYM C.T – Men tiêu hóa với liều dùng 5g cho 1 kg thức ăn, cho ăn tất cả các cử trong ngày.
- Sau 7 ngày: trộn thêm các loại enzyme và các chủng vi sinh như Lactobacillus Acidophilus để ổn định đường ruột tôm.
![]() | ![]() |
Cốt lõi của phác đồ điều trị trên là giải quyết triệt để, bắt nguồn từ nguyên nhân gây bệnh, đó là các tác nhân như tảo độc, nấm mốc, Gregarines, Vermiform, EHP và nguyên nhân chính, là các chủng vi khuẩn Vibrio spp.
Thông tin chi tiết hoặc nhận báo giá, vui lòng liên hệ:
Hotline/Zalo: 035 49 49 808
Email: bioct.vn@gmail.com
Bio C.T - Chuyên men vi sinh và hoạt chất thủy sản
|
|
|
Công Ty Cổ Phần Sinh Học Bio C.T (Bio C.T Biology JSC) chuyên sản xuất và phân phối các loại chế phẩm sinh học cho thủy sản (men vi sinh thủy sản, men tiêu hóa, men xử lý, enzyme các loại, ...) và các hoạt chất chuyên dùng cho thủy sản.














