Tổng hợp các loại bệnh thường gặp ở tôm thẻ chân trắng

cac-loai-benh-thuong-gap-o-tom-the-chan-trang
Mục lục

Tóm tắt

  • Rất nhiều mầm bệnh nguy hiểm đã xuất hiện như bệnh gan tụy cấp, đốm trắng, đầu vàng,… khiến người nuôi luôn trong tình trạng bất an, thiệt hại cả về năng suất lẫn chất lượng tôm thương phẩm.
  • Dưới đây là tổng hợp những căn bệnh phổ biến mà tôm thẻ chân trắng thường gặp trong quá trình nuôi, và cũng là mối đe dọa lớn đối với ngành nuôi tôm hiện nay.
  • Hội chứng tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome – EMS) hay còn gọi là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome – AHPNS / Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease – AHPND) là một trong những bệnh nguy hiểm và gây thiệt hại nhanh nhất đối với tôm thẻ chân trắng.
  • Khi tôm bị nhiễm bệnh EMS thường có biểu hiện gan sưng to rồi dần teo lại, tôm có dấu hiệu bỏ ăn, còi cọc, gan tụy bị nhũn.
  • Tôm có thể nhiễm bệnh trong suốt quá trình nuôi, thường dễ mắc bệnh nhất là ở giai đoạn 10 – 45 ngày sau khi thả nuôi.

Ngành nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, đi cùng với sự bùng nổ ấy là mối lo về dịch bệnh ngày càng gia tăng.

Rất nhiều mầm bệnh nguy hiểm đã xuất hiện như bệnh gan tụy cấp, đốm trắng, đầu vàng,… khiến người nuôi luôn trong tình trạng bất an, thiệt hại cả về năng suất lẫn chất lượng tôm thương phẩm. Nếu không có biện pháp phòng trị hiệu quả, rủi ro thiệt hại kinh tế có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Dưới đây là tổng hợp những căn bệnh phổ biến mà tôm thẻ chân trắng thường gặp trong quá trình nuôi, và cũng là mối đe dọa lớn đối với ngành nuôi tôm hiện nay.

1. Hội chứng tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome – EMS)

Hội chứng tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome – EMS) hay còn gọi là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome – AHPNS / Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease – AHPND) là một trong những bệnh nguy hiểm và gây thiệt hại nhanh nhất đối với tôm thẻ chân trắng. Khi bùng phát trong ao, bệnh có thể khiến người nuôi mất trắng toàn bộ vụ nuôi chỉ trong thời gian ngắn.

Nguyên nhân chính gây ra EMS là các chủng vi khuẩn Vibrio. Những vi khuẩn này tấn công trực tiếp vào gan tụy của tôm – bộ phận quan trọng tham gia quá trình tiêu hóa và trao đổi chất. Khi phát bệnh, gan tụy sẽ sưng to trong thời gian đầu, sau đó bị mềm nhũn và teo nhỏ lại, tôm yếu dần và có xu hướng bỏ ăn. Cơ thể tôm trở nên còi cọc, chậm lớn và mất dần khả năng đề kháng.

bẹnh-ems-tren-tom

Bệnh EMS trên tôm

Dấu hiệu của bệnh: Khi tôm bị nhiễm bệnh EMS thường có biểu hiện gan sưng to rồi dần teo lại, tôm có dấu hiệu bỏ ăn, còi cọc, gan tụy bị nhũn. Tôm có thể nhiễm bệnh trong suốt quá trình nuôi, thường dễ mắc bệnh nhất là ở giai đoạn 10 – 45 ngày sau khi thả nuôi. Tỷ lệ chết khá cao, có thể chết hơn một nửa hoặc cả ao nuôi.

Bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình nuôi nhưng nguy hiểm nhất là giai đoạn từ 10 đến 45 ngày sau khi thả giống. Tỷ lệ chết của tôm mắc EMS thường rất cao, có thể lên đến 50% hoặc thậm chí chết toàn bộ ao nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời. Đây chính là lý do khiến EMS trở thành nỗi ám ảnh lớn của những người làm nghề nuôi tôm.

2. Bệnh đốm trắng (White Spot Syndrome Virus – WSSV)

Trong nhóm các bệnh đặc trưng trên tôm thẻ chân trắng, bệnh đốm trắng (White Spot Syndrome Virus – WSSV) được xem như “kẻ sát thủ nguy hiểm bậc nhất”. Virus gây bệnh là Whispovirus thuộc họ Nimaviridae. Trong một số trường hợp, sự biến động mạnh của môi trường hoặc sự kết hợp với vi khuẩn cơ hội cũng khiến bệnh tiến triển nhanh hơn.

Tôm bị nhiễm đốm trắng thường có nhiều biểu hiện dễ nhận thấy. Chúng sẽ giảm ăn, bơi lờ đờ và thường chết tấp nhiều ở mé ao. Bên ngoài cơ thể chuyển màu hồng đỏ và xuất hiện các đốm trắng nhỏ trên lớp vỏ đầu ngực hay thân tôm. Khi mổ gan tụy có thể thấy cơ quan này chuyển sang màu vàng cam hoặc hơi nâu; cấu trúc gan tụy bị mềm yếu, dễ vỡ và tích nước do tế bào lipid bị giảm mạnh. Ruột và dạ dày rỗng hoặc chứa rất ít thức ăn.

benh-dom-trang-tren-tom

Bệnh đốm trắng trên tôm

Dấu hiệu bệnh lý:

  • Tôm nhiễm bệnh thường biểu hiện bỏ ăn, bơi lờ đờ, chết tấp mé.
  • Quan sát bên ngoài tôm thường chuyển màu đỏ hồng, phần giáp đầu ngực và thân tôm thường xuất hiện các đốm trắng li ti.
  • Quan sát bên trong khối gan tụy của tôm thường chuyển sang màu cam hoặc nâu nhạt, số lượng tế bào lipit giảm mạnh làm cho cấu trúc gan tụy bị nhũn, tích nước và dễ vỡ. Đường ruột và bao tử tôm trống hoặc có rất ít thức ăn.
  • Bệnh thường xuất hiện vào mùa lạnh, khi gió Bấc bắt đầu thổi, thường kéo dài từ tháng 9 đến đầu tháng 3 năm sau. Bệnh thường gây ra tỷ lệ chết rất cao (80-100%) trong vài ngày kể từ khi bùng phát bệnh.

Bệnh đốm trắng có tính lây lan cực kỳ nhanh và thường bùng phát vào những tháng lạnh trong năm, nhất là từ tháng 9 đến khoảng đầu tháng 3 năm sau khi gió mùa bắt đầu mạnh lên. Tỷ lệ chết có thể lên đến 80 – 100% chỉ trong vài ngày sau khi bệnh khởi phát. Chính vì mức độ tàn phá mạnh, đây là mối hiểm họa thường trực mà bất kỳ người nuôi nào cũng phải đặc biệt cảnh giác.

3. Hội chứng phân trắng (White Feces Syndrome – WFS)

Bệnh phân trắng hay còn gọi là Hội chứng phân trắng (White Feces Syndrome) không gây chết hàng loạt nhanh như bệnh đốm trắng hay EMS, nhưng lại là nguyên nhân khiến năng suất sụt giảm đáng kể do làm tôm chậm lớn, còi cọc, giảm sức khỏe tổng thể. Nếu không phát hiện và xử lý sớm, thiệt hại kinh tế vẫn có thể rất lớn.

Có nhiều tác nhân có khả năng gây ra bệnh phân trắng trên tôm như tảo độc hoặc tảo hại phát triển quá mức, nấm mốc, ký sinh trùng song bào trùng gregarine. Ngoài ra, còn có thể đến từ sự bong tróc các tế bào biểu mô ống gan tụy (Vermiform), vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) hay vi khuẩn Vibrio. Các yếu tố môi trường biến động, nguồn nước không ổn định và quản lý thức ăn không phù hợp cũng làm tăng nguy cơ bùng phát bệnh.

benh-phan-trang-tren-tom

Bệnh phân trắng trên tôm

Nguyên nhân chủ yếu là do:

  • Tảo độc, tảo hại.
  • Nấm mốc.
  • Song bào trùng gregarine.
  • Sự biến đổi, bong tróc của các tế bào biểu mô của ống gan tụy (Vermiform)
  • Vi bào tử trùng Enterocytozoon Hepatopenaei (EHP)
  • Vi khuẩn Vibrio trên tôm

Bệnh thường xuất hiện khi tôm đạt 50 – 60 ngày tuổi. Khi mắc bệnh, tôm có dấu hiệu đục thân, ruột trống hoặc chỉ còn rất ít thức ăn, gan tụy chuyển sang màu trắng và nhỏ lại. Tôm giảm ăn rõ rệt và tăng trưởng chậm. Phân tôm xuất hiện dạng sợi trắng nổi trên mặt nước – đây là dấu hiệu rõ nhất giúp phát hiện bệnh. Hội chứng phân trắng thường xuất hiện vào thời điểm giao mùa giữa mùa nắng và mùa mưa, tỷ lệ chết có thể lên đến 50% nếu không được điều trị đúng cách.

4. Hội chứng Taura (TSV)

Hội chứng Taura (TSV) được ghi nhận lần đầu tiên tại Ecuador, sau đó lan rộng ra các vùng nuôi tôm trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tác nhân gây bệnh là virus Taura thuộc giống Picornavirus. TSV nguy hiểm vì tốc độ lây lan rất nhanh và có khả năng truyền từ tôm bệnh sang tôm khỏe theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc qua nguồn giống.

hoi-chung-taura-tren-tom

Hội chứng Taura trên tôm

Bệnh thường xuất hiện trên tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn từ 14 đến 45 ngày tuổi, khi trọng lượng cơ thể đạt từ 0,05 g đến khoảng 7 g/con. Virus ký sinh chủ yếu trên các tế bào biểu mô và tập trung nhiều nhất ở vùng biểu mô đuôi trong giai đoạn đầu nhiễm bệnh.

Hội chứng Taura diễn biến theo ba giai đoạn: giai đoạn cảm nhiễm, giai đoạn chuyển tiếp và giai đoạn mãn tính.

Trong giai đoạn cảm nhiễm, tôm yếu đi rõ rệt, bơi lờ đờ và phần đuôi thường chuyển sang màu đỏ sậm. Ruột tôm trống rỗng, vỏ tôm mềm khiến quá trình lột xác trở nên khó khăn, thậm chí có thể gây hoại tử. Khi bước sang giai đoạn chuyển tiếp, bề mặt cơ thể xuất hiện thêm những đốm đen sẫm màu trên lớp vỏ do tổn thương mô. Nếu bệnh phát triển nặng mà không kiểm soát kịp thời, tỷ lệ chết có thể tăng rất nhanh và lan ra toàn bộ ao nuôi.

Hội chứng Taura trên tôm (TSV) do Picornavirus gây ra, bệnh có tính chất rất nguy hiểm và lây lan nhanh, thời gian ủ bệnh cao, có thể gây chết tôm trên diện rộng nếu dịch bệnh không được ngăn ngừa và kiểm soát kịp thời. Bệnh Taura thường gặp ở tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn từ 14 – 45 ngày tuổi, trọng lượng tôm dao động từ 0,05g – 7g/con.

Virus ký sinh trên tế bào biểu mô tôm, giai đoạn đầu tập trung ở biểu mô đuôi. Tôm thẻ chân trắng là một trong những loài tôm hay gặp hội chứng này do quy mô nuôi công nghiệp với mật độ cao ngày càng gia tăng.

5. Bệnh đầu vàng (Yellowhead disease – YHD)

Trong số những bệnh hay xuất hiện trên tôm thẻ chân trắng, bệnh đầu vàng được xem là mối nguy hiểm đáng lo ngại, đặc biệt vào thời điểm giao mùa và ở các khu vực nuôi ven biển có độ mặn cao. Tác nhân gây bệnh là virus có dạng hình que.

benh-dau-vang-tren-tom

Bệnh đầu vàng trên tôm

Hai loại virus chính liên quan đến bệnh này gồm Yellowhead virus (YHV) và Gill-associated virus (GAV). YHV là một virus hình que với kích thước khoảng 44 x 173 nm; phần nhân của virus có đường kính gần 15 nm và chiều dài chừng 800 nm. Đây là virus ARN thuộc Họ Roniviridae, có một số đặc điểm tương đồng với họ Rhabdoviridae hoặc nhóm virus dạng sợi của họ Paramyxoviridae.

Bệnh đầu vàng nằm trong nhóm bệnh do virus gây ra trên nhiều loài tôm như tôm thẻ chân trắng, tôm sú,… Khi tôm nhiễm bệnh, tỷ lệ chết có thể tăng rất cao, thậm chí mất trắng ao nuôi, gây tổn thất sản lượng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế người nuôi.

Tôm mắc bệnh thường lớn nhanh bất thường và ăn nhiều hơn so với thường lệ. Tuy nhiên, chỉ sau vài ngày, tôm sẽ bỏ ăn trong 1-2 ngày rồi chết và dạt vào bờ ao.

6. Bệnh hoại tử cơ, trắng đuôi, cong thân, đục cơ

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đục cơ hay trắng đuôi trên tôm thẻ chân trắng có thể đến từ nhiều tác nhân khác nhau. Các nghiên cứu đã xác định tôm bị nhiễm vi bào tử trùng (Microsporidian), hoặc virus như IMNV và PvNV. Ngoài ra, việc bị vi khuẩn Vibrio tấn công, đặc biệt là Vibrio harveyi, cũng gây ra tình trạng này và được gọi là bệnh trắng đuôi do vi khuẩn (BWTD – Bacterial White Tail Disease).

benh-o-tom-the-chan-trang-tom-bi-hoai-tu-co

Tôm bị hoại tử cơ

Triệu chứng có thể dễ dàng nhận thấy bằng mắt thường như phần cơ tại các đốt, phần đuôi hoặc toàn thân chuyển màu trắng đục và có dấu hiệu hoại tử mô.

Bệnh có thể xuất hiện trong nhiều tình huống như:

  • Cong thân, đục cơ do sốc cơ học: Khi kiểm tra tôm bằng nhấc nhá hoặc chài lưới lúc nhiệt độ nước cao, tôm phản xạ nhảy mạnh khiến thân cong. Những con bị cong thân thường sẽ chết ngay sau khi thả lại ao vì không thể duỗi thẳng lại.
  • Đục cơ do thiếu oxy: Khi hệ thống quạt nước trong ao không đủ, oxy hòa tan giảm mạnh và dẫn đến hiện tượng mô cơ bị trắng đục hàng loạt.

Hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị triệt để bệnh này, biện pháp chủ yếu vẫn là phòng ngừa tổng hợp và hạn chế tối đa các tác nhân gây bệnh từ môi trường và quá trình chăm sóc.

7. Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV)

Bệnh IHHNV là bệnh do Infectious Hypodermal and Hematopoietic Necrosis Virus gây ra. Khi mắc bệnh, tôm thẻ chân trắng sẽ tăng trưởng chậm hẳn, mức giảm có thể từ 10-30%. Đồng thời, các cơ quan phụ bộ ở đầu ngực bị biến dạng, vỏ tôm trở nên thô ráp, râu xoăn lại khiến tôm còi cọc và chậm lớn.

benh-o-tom-the-chan-trang-tom-bi-hoai-tu-co-quan-tao-mau-va-co-quan-lap-bieu-mo

Tôm bị hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô.

Dấu hiệu nhận biết: Tôm thẻ chân trắng tăng trưởng giảm từ 10 – 30%, các phụ bộ ở phần đầu ngực bị biến dạng, vỏ thô ráp và râu quăn, còi cọc.

Biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất hiện nay là tiến hành tiệt trùng trứng và ấu trùng ngay tại các trại sản xuất giống nhằm tránh mầm bệnh phát tán từ đầu nguồn.

8. Bệnh đốm đen

Bệnh đốm đen hay còn gọi là bệnh hoại tử gan tụy do vi khuẩn (NHPB) và hoàn toàn khác với bệnh hoại tử gan tụy cấp (EMS – AHPNS). Tác nhân gây ra bệnh là vi khuẩn Necrotizing Hepatopancreatitis Bacterium.

benh-o-tom-the-chan-trang-tom-bi-dom-den

Tôm bị đốm đen

Tôm nhiễm bệnh thường xuất hiện nhiều đốm đen nhỏ hoặc các mảng lớn trên cơ thể, mang màu tối hay đen sậm, đuôi mỏng. Một số trường hợp còn thấy tổn thương phụ bộ như râu bị cụt, vảy râu bong tróc hoặc đuôi bị mòn.

Để phòng và kiểm soát bệnh, cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh do vi khuẩn nói chung như diệt khuẩn khi cải tạo ao, kiểm tra mật độ vi khuẩn bằng môi trường thạch TCBS agar (MP – BIOTEST) và đánh giá chất lượng tôm giống bằng kỹ thuật PCR trước khi thả nuôi.

9. Bệnh tôm thủy tinh (TPD) – Bệnh ấu trùng mờ

Bệnh tôm thủy tinh hay còn gọi là bệnh ấu trùng mờ (Translucent post-larva disease – TPD), hoặc còn được gọi với cái tên khoa học hơn là Hội chứng thủy tinh hóa do vi khuẩn (Bacterial vitrified syndrome – BVS). Bệnh này đặc trưng bởi đặc điểm bệnh ký như khối gan tụy và đường tiêu hóa nhợt nhạt hoặc mất màu.

trieu-chung-nhiem-benh-tpd-tren-tom

Triệu chứng nhiễm bệnh TPD trên tôm (@biofloc)

Một số dấu hiệu cho thấy tôm đã bị nhiễm bệnh bao gồm:

  • Gan tụy nhợt nhạt, không màu.
  • Dạ dày, đường tiêu hóa trống rỗng.
  • Cơ thể trong suốt, mờ đục.
  • Giảm khả năng bơi, dễ bị chìm xuống đáy.

Một số nghiên cứu gần đây cho rằng Vibrio spp. có thể là nguồn gốc gây bệnh. Tuy nhiên, những biến động trong hệ vi sinh đường ruột và môi trường nước khi bệnh diễn ra vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Vì vậy, việc phân tích dấu hiệu vi khuẩn trong nước và ruột tôm theo hướng vi sinh sinh thái là rất cần thiết để hiểu rõ cơ chế gây bệnh.

au-trung-tom-bi-nhiem-tpd

Ấu trùng tôm bị nhiễm TPD (@biofloc)

Nghiên cứu của Peng Yu và cộng sự (2022) đã ghi nhận chi tiết các triệu chứng và sự thay đổi quần thể vi khuẩn ở tôm post bị bệnh và trong môi trường ao nuôi, đồng thời chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa sự biến động của hệ vi sinh và sự bùng phát dịch bệnh.

vi-khuan-Vp-JS20200428004-2-nuoi-cay-tren-thach-tsa-va-tcbs

Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus (Vp-JS20200428004-2) nuôi cấy trên thạch TSA và TCBS (@biofloc)

Nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn đã chỉ ra rằng Bệnh tôm thủy tinh (TPD) | Bệnh ấu trùng mờ gây ra bởi dòng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus và gây thiệt hại 70 – 80% trại giống ở vùng ven biển Trung Quốc vào mùa xuân 2020. Các nghiên cứu đã xác định là chủng Vibrio parahaemolyticus (Vp-JS20200428004-2) có độc lực cao gây ra bệnh này, và chủng này được đặt tên tắt là VpTPD.

VpTPD gây chết nhiều ở tôm post giai đoạn 4 – 7 ngày tuổi (PL4 – 7). Tỷ lệ chết của tôm nhiễm bệnh rất cao, lên đến 100% trong 3 ngày.


Thông tin chi tiết hoặc nhận báo giá, vui lòng liên hệ:

Hotline/Zalo: 035 49 49 808

Email: bioct.vn@gmail.com

Bio C.T - Chuyên men vi sinh và hoạt chất thủy sản

baczym-c.t-men-tieu-hoa-nong-to-duong-ruot-2

baci-c.t-che-pham-sinh-hoc-xu-ly-day-2

bio-no2-c.t-che-pham-sinh-hoc-xu-ly-khi-doc-2

Công Ty Cổ Phần Sinh Học Bio C.T (Bio C.T Biology JSC) chuyên sản xuất và phân phối các loại chế phẩm sinh học cho thủy sản (men vi sinh thủy sản, men tiêu hóa, men xử lý, enzyme các loại, ...) và các hoạt chất chuyên dùng cho thủy sản.

Thông tin tác giả

Author Avatar

Bio C.T

Công Ty Cổ Phần Sinh Học Bio C.T chuyên sản xuất và phân phối các loại chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa, men xử lý, enzyme các loại, ...) và các hoạt chất chuyên dùng cho thủy sản.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Hotline: 035 49 49 808
Zalo: 035 49 49 808